ĐBQH Cà Mau đề xuất gỡ “điểm nghẽn”, tạo động lực khai thác các mỏ dầu khí nhỏ, cận biên, điều kiện khai thác phức tạp
Chiều 8/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh và đại biểu Nguyễn Duy Thanh, Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau, đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế lựa chọn nhà thầu, phát triển hoạt động thu giữ và lưu trữ các-bon, quản trị dữ liệu dầu khí và tạo động lực khai thác các mỏ dầu khí khó, mỏ cận biên.
Quang cảnh phiên thảo luận tại hội trường về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không nên bắt buộc chọn nhà thầu xếp thứ nhất
Phát biểu tại nghị trường, đại biểu Lê Thị Ngọc Linh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Cà Mau, Ủy viên Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội, cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật Dầu khí nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, khai thác hiệu quả tài nguyên, thu hút đầu tư và thích ứng với xu thế chuyển dịch năng lượng.
Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Cà Mau, Ủy viên Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội, phát biểu tại phiên thảo luận.
Góp ý về cơ chế lựa chọn nhà thầu dầu khí, đại biểu Linh đề nghị không quy định cứng việc bắt buộc lựa chọn nhà thầu có hồ sơ dự thầu xếp thứ nhất trong mọi trường hợp.
Theo đại biểu, dầu khí là lĩnh vực có đặc thù kỹ thuật phức tạp, rủi ro cao và thời gian thu hồi vốn dài. Do đó, việc lựa chọn nhà thầu cần linh hoạt hơn, không chỉ căn cứ vào thứ hạng hồ sơ mà cần xem xét hiệu quả tổng thể của dự án, năng lực thực chất của nhà đầu tư, yêu cầu quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.
Đề xuất tận dụng mỏ dầu khí cũ để lưu trữ CO₂
Về thu giữ và lưu trữ các-bon (CCS), đại biểu Lê Thị Ngọc Linh đánh giá việc dự thảo Luật bước đầu tạo hành lang pháp lý cho lĩnh vực này là cần thiết, bởi đây là lĩnh vực mới, có ý nghĩa đối với mục tiêu giảm phát thải và mở ra không gian phát triển mới cho ngành dầu khí.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế quản lý, quyền nghiên cứu, đề xuất và sử dụng các cấu tạo địa chất, bể chứa dầu khí để lưu trữ CO₂.
Đáng chú ý, đối với các mỏ đã hoặc sắp kết thúc khai thác, đại biểu đề nghị tạo điều kiện để nhà thầu dầu khí hiện hữu hoặc Petrovietnam nghiên cứu, đề xuất chuyển đổi mỏ sau khai thác thành cơ sở lưu trữ CO₂ trong một thời hạn nhất định.
Theo đại biểu, các chủ thể này có lợi thế về dữ liệu địa chất, đặc điểm bể chứa và hạ tầng hiện hữu.
Đại biểu cũng đề nghị cơ chế lựa chọn nhà thầu thực hiện thu giữ, vận chuyển và lưu trữ các-bon phải phù hợp với đặc thù của lĩnh vực mới, bảo đảm nhà đầu tư được lựa chọn có năng lực, kinh nghiệm và giải pháp kỹ thuật phù hợp, đáp ứng yêu cầu về an toàn, môi trường và lợi ích quốc gia.
Dữ liệu dầu khí phải trở thành nguồn lực phát triển
Một trong những nội dung được đại biểu Lê Thị Ngọc Linh đề nghị quan tâm là quản trị dữ liệu dầu khí.
Đại biểu đề nghị hoàn thiện quy định theo hướng tập trung, thống nhất, liên thông và hiện đại. Theo đại biểu, dữ liệu địa chất, địa vật lý, thăm dò và khai thác dầu khí có giá trị đặc biệt, không chỉ phục vụ ngành dầu khí mà còn liên quan đến an ninh năng lượng quốc gia, lưu trữ các-bon, năng lượng ngoài khơi và chuyển dịch năng lượng.
Do đó, cần làm rõ mô hình quản trị dữ liệu, cơ quan chủ quản, đơn vị vận hành, trách nhiệm cập nhật, chuẩn hóa, bảo mật và cơ chế chia sẻ, khai thác dữ liệu.
Đại biểu đồng thời đề nghị phân loại dữ liệu theo mức độ công khai, dữ liệu dùng chung, dữ liệu hạn chế tiếp cận và dữ liệu quan trọng, cốt lõi, vừa bảo vệ bí mật thương mại, bí mật công nghệ, vừa phục vụ lợi ích quốc gia và phát triển kinh tế.
Theo đại biểu, cần hướng tới một hệ thống quản trị dữ liệu dầu khí quốc gia có khả năng kết nối, chia sẻ và tái sử dụng, thay vì chỉ xây dựng một “kho dữ liệu dầu khí”. Khi đó, dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực phục vụ phát triển ngành dầu khí, lưu trữ các-bon, năng lượng ngoài khơi và chuyển dịch năng lượng.
“Điểm sáng” chính sách cho mỏ dầu khí cận biên
Cùng tham gia thảo luận, đại biểu Nguyễn Duy Thanh, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Cà Mau, tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Dầu khí và nhất trí thông qua dự án Luật tại Kỳ họp này.
Đại biểu Nguyễn Duy Thanh, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Cà Mau, phát biểu tại phiên thảo luận.
Tập trung vào Chương VI về chính sách ưu đãi đầu tư, đại biểu Nguyễn Duy Thanh nhìn nhận từ thực tiễn doanh nghiệp và tỉnh Cà Mau - nơi dòng khí từ ngoài khơi Tây Nam vào bờ để chạy nhà máy điện, nhà máy đạm, tạo việc làm và cung cấp nguyên liệu cho các cụm công nghiệp trên bờ.
Theo đại biểu, một mỏ khí nhỏ ngoài biển không chỉ là sản lượng khai thác mà còn gắn với việc làm và nguồn nguyên liệu cho công nghiệp trên bờ.
Đại biểu cho rằng khó khăn của ngành dầu khí hiện nay là tài nguyên vẫn còn nhưng ngày càng nằm ở những khu vực khó khai thác hơn như nước sâu, xa bờ, vỉa mỏng, mỏ nhỏ và phân tán. Trong khi đó, suất đầu tư trên mỗi thùng dầu, mỗi mét khối khí ngày càng tăng.
Từ thực tế đó, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo thiết kế chính sách ưu đãi theo nhiều tầng, thay vì áp dụng một mức chung. Điều 41 phân định nhóm được hưởng ưu đãi đầu tư và nhóm được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt; Điều 42 gắn từng tầng với các mức thuế và tỷ lệ thu hồi chi phí cụ thể.
Đại biểu nhấn mạnh, điều nhà đầu tư quan tâm không chỉ là mức thuế mà còn là khả năng biết trước nghĩa vụ tài chính trong suốt vòng đời dự án. Các quy định rõ ràng, công khai sẽ tạo tín hiệu chính sách mạnh, đồng thời bảo đảm mức hỗ trợ tương ứng với mức độ khó và rủi ro của từng dự án.
Tăng thu hồi dầu khí, rút ngắn thủ tục cho mỏ cận biên
Đại biểu Nguyễn Duy Thanh đánh giá cao Điều 44 về ưu đãi đối với nâng cao hệ số thu hồi dầu khí. Theo dự thảo, nhà thầu áp dụng giải pháp, công nghệ nâng cao hệ số thu hồi được đề xuất tăng thêm mức thu hồi chi phí không quá 10% so với hợp đồng hiện hữu để thu hồi chi phí phát sinh; sau khi thu hồi đủ chi phí, mức thu hồi trở lại mức cũ.
Theo đại biểu, cơ chế này cho phép tận dụng giàn, giếng và đường ống hiện có để khai thác thêm sản lượng, với chi phí đầu tư biên thấp. Việc cho phép gia hạn hợp đồng dầu khí không quá 15 năm cũng tạo điều kiện để triển khai đầy đủ hoạt động nâng cao hệ số thu hồi.
Đặc biệt, đại biểu đánh giá Điều 43 về mỏ dầu khí cận biên là điểm sáng của dự thảo.
Đối với mỏ cận biên không đạt hiệu quả kinh tế tối thiểu, khoản 3 Điều 43 cho phép nhà thầu, sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế tài nguyên và thuế xuất khẩu nếu có, được sử dụng toàn bộ phần dầu khí còn lại để thu hồi chi phí; sau khi thu hồi đủ, được hưởng toàn bộ phần còn lại.
Đại biểu cho rằng cần nhìn đúng bản chất của mỏ cận biên. Đây là những mỏ mà nếu áp dụng điều kiện hợp đồng thông thường có thể không có nhà đầu tư thực hiện. Khi đó, tài nguyên vẫn nằm dưới đáy biển, không có khí vào bờ, không tạo việc làm và không phát huy giá trị kinh tế.
Đại biểu cũng ghi nhận những quy định giúp rút ngắn thủ tục đối với mỏ cận biên. Với những mỏ đang suy giảm sản lượng, theo đại biểu, việc rút ngắn vài tháng thủ tục có thể góp phần duy trì hiệu quả, thậm chí quyết định khả năng tiếp tục của dự án.
Làm rõ tiêu chí ưu đãi, tránh chồng lấn
Đại biểu Nguyễn Duy Thanh đề nghị làm rõ hai tiêu chí “hiệu quả đầu tư tối thiểu” và “hiệu quả kinh tế tối thiểu”. Đại biểu tán thành hướng quy định chi tiết tại Nghị định vì các tiêu chí này phụ thuộc giá dầu, lãi suất từng thời kỳ và không nên cứng hóa trong Luật.
Tuy nhiên, phương pháp xây dựng tiêu chí cần công khai, kiểm chứng được, để nhà đầu tư có thể tự tính toán và xác định mỏ thuộc tầng ưu đãi nào trước khi nộp hồ sơ. Các quy định cũng cần được ban hành để áp dụng ngay khi Luật có hiệu lực, tránh khoảng trống chính sách.
Một kiến nghị khác là phân định rõ ranh giới giữa điểm e khoản 1 và điểm e khoản 2 Điều 41. Theo đại biểu, cùng một loại mỏ cận biên đang xuất hiện ở cả diện ưu đãi đầu tư và ưu đãi đầu tư đặc biệt.
Đại biểu đề nghị bổ sung tại điểm e khoản 2 Điều 41 điều kiện dẫn chiếu thống nhất với Điều 43 để tránh chồng lấn. Đây là nội dung liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thuế trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài nên cần được rà soát, làm rõ ngay trong dự thảo.
Kết thúc phần phát biểu, đại biểu Nguyễn Duy Thanh cho rằng hai kiến nghị trên mang tính kỹ thuật, không làm thay đổi chính sách đã được thiết kế. Đại biểu tin tưởng dự thảo đã sẵn sàng để Quốc hội xem xét thông qua, đồng thời mong muốn sau khi Luật có hiệu lực, các mỏ nhỏ, mỏ cận biên ngoài khơi, trong đó có vùng biển Tây Nam, sớm được đưa vào khai thác, để dòng khí tiếp tục về bờ, các nhà máy tiếp tục hoạt động và người lao động có việc làm ổn định.
Các ý kiến của hai đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau tập trung vào những vấn đề thiết thực của dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), từ lựa chọn nhà thầu, thu giữ và lưu trữ các-bon, quản trị dữ liệu đến chính sách ưu đãi, nâng cao hệ số thu hồi và khai thác mỏ cận biên; hướng tới một khung chính sách linh hoạt hơn trong lựa chọn nhà đầu tư, minh bạch hơn về ưu đãi, chặt chẽ hơn trong quản trị dữ liệu và sát hơn với thực tiễn khai thác các mỏ dầu khí khó, qua đó góp phần khai thác hiệu quả tài nguyên, bảo đảm an ninh năng lượng và tạo thêm giá trị cho nền kinh tế.
Lê Hằng